Kinh nghiệm đầu tư và ứng dụng công nghệ CTP

Người viết: Trần Duy Hải    
06/12/2007

Vài nét về Nhà máy in Quân đội 2 và quá trình đầu tư công nghệ CTP của Nhà máy.

Nhà máy in Quân đội 2 thuộc Tổng cục Chính trị là trung tâm in tổng hợp của quân đội ở phía Nam được củng cố và phát triển trên cơ sở Nhà máy in báo Quân đội nhân dân 2 trước đây, theo quyết định số 154/2005/QĐ-BQP ngày 10/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Nhà máy vẫn là in báo Quân đội nhân dân và các ấn phẩm phục vụ quốc phòng an ninh. Ngoài ra, với chức năng là một doanh nghiệp Nhà nước, Nhà máy in Quân đội 2 còn tham gia tích cực vào thị trường in, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực in sách, báo, tạp chí… Từ năm 2002, Nhà máy in Quân đội 2 đã được cấp chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000.
Khi đất nước mới mở cửa và chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà máy in Quân đội 2 đã sớm xác định đầu tư công nghệ và thiết bị tiên tiến, hiện đại hóa và đồng bộ dây chuyền sản xuất là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp. Cho đến ngày hôm nay khi đất nước đã chuyển sang thời kỳ hội nhập thì đầu tư đổi mới công nghệ vẫn là vấn đề thời sự đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Trong quá trình đầu tư phát triển, lựa chọn lĩnh vực nào để tạo đột phá, lựa chọn công nghệ nào là phù hợp và đảm bảo tính cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh… là những câu hỏi lớn trong định hướng đầu tư của Nhà máy ở mọi thời điểm.
Từ những năm đầu của thập kỉ 90, từ  việc nhận thức đúng nhu cầu thị trường và xu thế phát triển của ngành in, Nhà máy in Quân đội 2 đã xác định khâu chế bản trước in đóng vai trò rất quan trọng, có tính đột phá trong việc nâng cao chất lượng in và rút ngắn thời gian sản xuất. Đây là lĩnh vực “kinh tế tri thức”, là công nghệ mũi nhọn của ngành in trên thế giới.
Năm 1996, Nhà máy in Quân đội 2 đầu tư hệ thống chế bản ghi phim tách màu LinoType Hell. Hệ thống chế bản này hoạt động rất có hiệu quả và khẳng định được uy tín của nhà máy trong lĩnh vực chế bản tại TP.HCM. Trong giai đoạn này Nhà máy đã xây dựng đội ngũ chế bản có trình độ và tay nghề cao (80% có trình độ kĩ sư tốt nghiệp khá và giỏi của Khoa Công nghệ in trường ĐHSPKT Thủ Đức), là nguồn nhân lực quyết định hiệu quả đầu tư và áp dụng công nghệ CTP  sau này tại Nhà máy.
Năm 2003, Nhà máy in Quân đội 2 là đơn vị đầu tiên của cả nước đầu tư hệ thống CTP ghi bản nhiệt. Trong khu vực, các thị trường lớn như Ấn Độ, Trung Quốc… thời điểm này cũng chỉ rất ít nhà in có hệ thống CTP (cùng thời điểm này Nhà in Lê Quang Lộc đầu tư hệ thống ghi bản CTcP – ghi bản truyền thống). Mặc dù giá trị đầu tư hệ thống CTP ghi bản nhiệt cao hơn các công nghệ ghi bản khác nhưng Nhà máy in Quân đội 2 vẫn quyết định lựa chọn công nghệ này vì mục tiêu hàng đầu là chất lượng in các sản phẩm cao cấp, đưa đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ cao hơn.
Điểm đặc biệt ở đây là từ chỗ áp dụng công nghệ CTP cho các sản phẩm in chất lượng cao (in tờ rời), chúng tôi càng nhận thấy những ưu điểm của công nghệ mới và đã áp dụng CTP rộng rãi cho việc in báo. Đền nay, Toàn bộ hơn một chục tờ báo in hằng ngày tại Nhà máy áp dụng công nghệ CTP. Các khách hàng rất hài lòng về chất lượng và thời gian giao hàng.
Năm 2005, Nhà máy in Quân đội 2 xây thêm 1 phân xưởng in cuộn hiện đại với 3 máy in cuộn 4 màu (1 máy in sách giáo khoa và 2 máy in báo). Hằng đêm, Nhà máy phải in trên 10 tờ báo khác nhau với số lượng bản kẽm phải đáp ứng trên 100 kẽm. Do vậy, đến tháng 9-2006, nhà máy đã đầu tư thêm 1 hệ thống CTP ghi bản nhiệt năng suất 30 bản/giờ – đó là hệ thống ghi bản Suprasetter của Heidelberg do J.R cung cấp để phục vụ kịp thời cho khâu in. Đây cũng là hệ thống thiết bị CTP thế hệ mới, thuộc nhóm thiết bị có năng suất cao đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
Thực tế đã chứng minh quyết định lựa chọn công nghệ của Nhà máy in Quân đội 2 là đúng đắn (theo số liệu thống kê công bố trên trang điện tử www.printmediavn.com, đến cuối năm 2007 tại Việt Nam đã có 36 hệ thống CTP được lắp đặt, trong đó 28 hệ thống CTP ghi bản nhiệt).
 

1.     Quan điểm của Nhà máy in QĐ 2 về đầu tư hệ thống CTP và thực tế áp dụng

-        Đầu tư hệ thống CtP không giống như đầu tư một hệ thống CtF như trước đây: lấy doanh thu từ việc xuất phim dịch vụ để làm cơ sở tính toán hiệu quả (khả năng hoàn vốn). Đầu tư CTP là để phục vụ cho sản xuất tại Nhà máy.

Khi đầu tư hệ thống CTP ghi bản nhiệt đầu tiên vào năm 2003, chúng tôi có một cách tiếp cận khác để tính toán hiệu quả đầu tư: không tính toán trực tiếp một tấm bản CTP phải có giá bao nhiêu để hoàn vốn mà tính toán hiệu quả đầu tư hệ thống CTP tích hợp trong quá trình sản xuất chung của nhà máy. Trước hết, đầu tư CTP để nâng cao chất lượng sản phẩm in. Thứ hai là rút ngắn thời gian chế bản và chuẩn bị in sẽ giúp nhà máy phát huy hiệu quả các máy in tốt hơn nữa, có thể nhận thêm đơn hàng mới, đặc biệt phù hợp với xu thế các đơn hàng in hiện nay thường không lớn và lại yêu cầu chất lượng và thời gian giao hàng rất khắt khe. Thứ ba, công nghệ CTP giúp tiết kiệm nhân lực và vật tư (không chỉ là vật tư chế bản, mà còn tiết kiệm rất lớn về giấy và mực in). Như vậy, đầu tư CTP là gia tăng hiệu quả sản xuất bằng việc nâng cao chất lượng, tăng năng suất, tiết kiệm các chi phí.

Trong quá trình tìm hiểu và đầu tư công nghệ CTP, nhà máy in Quân đội 2 luôn ở tư thế chủ động, biết mình cần gì và luôn đặt yêu cầu cụ thể, thiết thực để xem các nhà cung cấp đáp ứng được đến đâu, tính năng kỹ thuật và khả năng thực sự của các hệ thống thiết bị hoạt động trong thực tế như thế nào (không thể tin 100% lời quảng cáo có cánh của người đi bán được).
Về việc lựa chọn công nghệ ghi bản CTP, chúng tôi xác định công nghệ ghi bản nhiệt là phù hợp nhất với điều kiện và mục tiêu đầu tư của nhà máy chúng tôi, có thể tạo nên sự đột phá về chất lượng in các sản phẩm cao cấp do xuất phát từ chính nguyên lý của bản in nhạy nhiệt (bản digital thực sự) và khả năng áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất trong lĩnh vực chế bản như về tram in (FM, Hybrid) trong thực tế sản xuất. Ngoài ra, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy công nghệ ghi bản nhiệt vận hành, bảo trì đơn giản, ít tốn kém thời gian và sức lực người lao động. Kiểm soát chất lượng bản in cũng dễ dàng hơn, chất lượng bản in làm ra ổn định, ô nhiễm môi trường ít hơn…

-        Việc đầu tư thiết bị & công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ CTP, chính là thực hiện chính sách chất lượng, thực hiện cam kết của chúng tôi khi áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000: hướng tới khách hàng, không ngừng cải tiến hệ thống quản lý chất lượng để phục vụ khách hàng tốt hơn.

Có nhiều sản phẩm là các báo in tại Nhà máy trong hợp đồng in không yêu cầu sử dụng công nghệ CTP, thậm chí chỉ in giấy can và ra phim tách màu để bình và phơi bản PS (nhằm tiết kiệm chi phí). Tuy nhiên, Nhà máy vẫn chủ động trao đổi với khách hàng chuyển sang sử dụng công nghệ CTP nếu điều kiện kỹ thuật cho phép, chi phí chế bản và in cho khách hàng không phải trả thêm.
Khi chuyển sang CTP khách hàng thấy chất lượng các sản phẩm cải thiện rõ rệt, thời gian sản xuất được rút ngắn, khách hàng đỡ vất vả hơn trong quá trình theo dõi, giám sát chất lượng tại nhà in. Báo Mua & Bán trước đây khách hàng in giấy can sau đó bình bản và chuyển sup-po tới nhà in vừa tốn nhân lực, thời gian, chất lượng không đảm bảo và không ổn định, nhiều khi chuyển tới nhà in phát hiện sup-po không đảm bảo chất lượng phải đưa về tòa soạn làm lại. Nhà máy đã chủ động tư vấn và giúp Tòa soạn truyền dữ liệu tới Nhà máy và áp dụng công nghệ CTP để chế bản và in giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí và mang lại hiệu quả cho chính tòa soạn.
Chất lượng cao hơn, thời gian giao hàng rút ngắn tiếp tục củng cố uy tín của Nhà máy, giúp Nhà máy nâng cao hiệu quả sản xuất.
Từ năm 2003 – 2005, mặc dù mới chỉ có thêm một hệ thống ghi bản CTP năng suất 13 bản/giờ và các máy in hiện có (2 máy tờ rời 4 màu, 2 máy tờ rời 2 màu, 1 máy in cuộn 4 màu) nhưng sản lượng, doanh thu và hiệu quả của Nhà máy đều tăng vượt xa dự kiến kế hoạch. Hệ thống CTP hoạt động hiệu quả nên sản lượng trang in (13x19) năm 2005 tăng trên 160 % so với năm 2004 (năm 2004: 11,1 tỉ trang in, năm 2005: 18 tỉ trang in ), doanh thu và lợi nhuận tương ứng cũng tăng hơn (doanh thu tăng trên 15 tỉ đồng).
Đến nay, với việc đầu tư thêm 1 hệ thống chế bản CTP của Heidelberg - Suprasetter, năng suất ghi bản CTP của Nhà máy đã đạt gần 50 bản/giờ. Toàn bộ các sản phẩm chế bản và in tại Nhà máy sử dụng công nghệ CTP với kĩ thuật tram in tiên tiến Hybrid (trừ SGK bắt buộc phải sử dụng phim chế bản của NXBGD). Về ứng dụng CIP4, từ năm 2004 Nhà máy in Quân đội 2 đã áp dụng cho 1 máy in tờ rời (máy in Mitsubishi đầu tư năm 2003). Việc áp dụng CIP4 tiếp tục được Nhà máy quan tâm khi đầu tư các thiết bị mới. Hằng tháng, số lượng kẽm CTP phải sử dụng cho sản xuất tại nhà máy trên 6000 bản, có tháng lên tới 7000 bản. Sản lượng trang in của nhà máy năm 2006 đạt 25,75 tỉ trang 13x19 (doanh số đạt trên 113 tỉ đồng). Năm 2007 dự kiến đạt trên 26,5 tỉ trang in 13x19, doanh thu 130 tỉ đồng.
Ngoài đáp ứng cho sản xuất tại Nhà máy, chúng tôi còn ghi gia công cho một số nhà in khác trên địa bàn cần có bản in CTP để in các sản phẩm yêu cầu chất lượng cao.

Về mặt tiết kiệm vật tư:  do áp dụng công nghệ, trong đó có vai trò của việc sử dụng tram in Hybrid khi chế bản CTP, với cùng sản lượng trang in so với năm 2007 thống kê lượng mực sử dụng để in trong năm 2007 ít hơn rất nhiều, tiết kiệm hàng trăm triệu đồng so với năm trước.

Riêng hệ thống CTP ghi bản nhiệt Suprasetter do công ty J.R cung cấp, chúng tôi rất hài lòng vì hiệu quả mà hệ thống này mang lại. Những điểm nổi bật :
•    •       Thời gian lắp đặt và đưa vào vận hành rất ngắn, hoàn toàn do các kĩ sư nội của J.R đảm nhiệm (tất nhiên trước đó chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm vận hành công nghệ CTP do hãng Screen cung cấp).
•    •       Hai hệ thống ghi bản CTP (PTR của Screen và Suprasetter của Heidelberg) kết nối hoàn toàn với nhau. Hiện tại, chúng tôi sử dụng phần mềm bình trang Prinect Signastation và phần mềm RIP Metadimension của Heidelberg tạo dữ liệu điều khiển ghi bản trên 2 máy. Cấu hình hệ thống, đặc biệt là sử dụng dữ liệu Tif-B để điều khiển các máy ghi bản, do công ty J.R tư vấn và hiện thực hóa giúp cho việc vận hành hệ thống dễ dàng, linh hoạt và hiệu quả.
•    •       Phần mềm bình trang điện tử Prinect Signastation rất dễ sử dụng và cực kỳ linh hoạt, mạnh mẽ. Các tính năng đặc biệt như Web growth hỗ trợ nâng cao chất lượng và giúp tiết kiệm vật tư in báo, khả năng hỗ trợ CIP4 cao hơn các phần mềm thông thường (khi kết nối máy in, dữ liệu CIP4 không chỉ điều khiển mở mực trên máy in theo mật độ phân bố tram in mà còn có thông tin về độ dày giấy nếu như sử dụng máy in Heidelberg)
•    •       Thư viện tram in có sẵn trên RIP rất phong phú, bao gồm những giải thuật tram nổi tiếng của Heidelberg giúp người vận hành lựa chọn dễ dàng, phù hợp yêu cầu tách màu chế bản và giảm hiện tượng moirés, rosette. Đặc biệt kỹ thuật tram Hybrid của Heidelberg với kích thước điểm tram thay đổi đáp ứng mọi yêu cầu chế bản trong thực tế. Hiện nay, các sản phẩm in tại Nhà máy hầu hết sử dụng kĩ thuật tram tiên tiến Hybrid của Heidelberg (cả tạp chí cao cấp in tờ rời và báo in trên máy in cuộn).
•    •       Hệ thống tài liệu hướng dẫn vận hành của Heidelberg rất đầy đủ. Nhiều công việc trước đây chỉ có kỹ sư của nhà cung cấp thiết bị mới biết và thực hiện, đến nay Heidelberg đã chuyển giao cho người vận hành (ví dụ hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chất lượng và thiết lập các thông số máy ghi cho các loại bản CTP khác nhau…). Điều này phản ánh Heidelberg đã thực hiện cam kết là nhà cung cấp giải pháp chứ không chỉ dừng ở việc bán thiết bị. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà in.
•    •       Hệ thống chế bản của Heidelberg có một thư viện các CTP-tools – công cụ đảm bảo chất lượng bản in – giúp kiểm tra đánh giá chất lượng các loại bản in CTP, hiện tại không phải hệ thống nào CTP nào cũng có. Đây là sự trợ giúp rất có ý nghĩa đối với các nhà in trong thực tế sản xuất.
Xuất phát từ hiệu quả trong thực tế áp dụng công nghệ CTP và điều kiện sản xuất tại Nhà máy, chúng tôi đã quyết định loại hệ thống ghi phim (công nghệ CtF) khỏi dây chuyền chế bản. Chế bản điện tử tại Nhà máy in Quân đội 2 từ năm 2008 chỉ còn công nghệ CTP. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ CTP, ổn định sản xuất, chúng tôi đã có chủ trương đầu năm 2008 sẽ nâng cấp tiếp hệ thống chế bản CTP hiện có.
-        Về mặt kỹ thuật, đầu tư hệ thống CtP có nghĩa chuyển toàn bộ công đoạn chế bản sang kỹ thuật số. Đây là sự thay đổi lớn về công nghệ sản xuất. Do vậy, toàn bộ hệ thống quản lý và tổ chức sản xuất cần có sự điều chỉnh, vận hành phù hợp. Nhân lực chế bản cần có sự đầu tư tương xứng.
Ở Nhà máy in quân đội 2, ban Giám đốc yêu cầu các cán bộ, nhân viên chuyên môn các phòng nghiệp vụ phải nắm được quy trình và những khái niệm cơ bản nhất về công nghệ, phương pháp in để nâng cao hiệu quả công tác. Nhà máy mở những lớp ngắn hạn tại chỗ để bồi dưỡng kiến thức, thậm chí Giám đốc là người trực tiếp lên lớp.
Khi đầu tư và áp dụng công nghệ CTP, chúng tôi tổ chức các buổi hội thảo về công nghệ, mời chuyên gia công ty J.R tới giới thiệu chi tiết những tính năng mới, những kinh nghiệm và hướng dẫn vận hành không chỉ cho PX chế bản, mà cả ban Giám đốc, phòng kế hoạch, phòng vật tư, phòng kĩ thuật, các phân xưởng in, hoàn thiện sản phẩm cũng tham dự. Những chuyên đề hẹp hơn chỉ liên quan đến sản xuất thì tổ chức phổ biến kiến thức và kinh nghiệm cho các công nhân tại các phân xưởng. Những thông tin công nghệ, kĩ thuật cần thiết cũng thường xuyên được truyền đạt tới đại diện khách hàng để có sự hợp tác tốt nhất.
Trong sản xuất, khi đã chuyển sang công nghệ CTP thì không chỉ các nhân viên chế bản mà các công nhân đứng máy in cũng phải rất am hiểu về bản in CTP. Sự gắn kết, hợp tác giữa 2 bộ phận này phải chặt chẽ hơn trước rất nhiều để áp dụng có hiệu quả những tính năng kĩ thuật mới và nhận biết, xử lý những sự cố xảy ra.
Nhà máy in QĐ2 cũng áp dụng các tiêu chuẩn kĩ thuật ISO 12647 và tham khảo một số tiêu chuẩn khác như SWOP, SNAP, PANPA… để tiêu chuẩn hóa các quá trình sản xuất phù hợp điều kiện thực tế của nhà máy.
Để áp dụng có hiệu quả công nghệ CtP, đội ngũ chế bản là lực lượng trực tiếp và quan trọng nhất. Từ lúc còn vận hành công nghệ CtF, nhân lực chế bản điện tử của nhà máy đã được chuẩn bị khá tốt để sẵn sàng chuyển sang làm chủ công nghệ CtP. Các kĩ sư công nghệ là lực lượng nòng cốt trong quản lý và sản xuất của phân xưởng chế bản. Nhà máy tạo mọi điều kiện để đội ngũ này nắm vững các kiến thức chế bản nói chung và làm chủ hệ thống thiết bị chế bản hiện có (năm 1990, khi internet mới có tại Việt Nam, nhà máy đã cho lắp đặt ngay để đội ngũ chế bản tiếp cận và sử dụng interner phục vụ cho học tập và sản xuất…). Phân xưởng chế bản luôn chủ động tự tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chế bản. Ngay từ khi vận hành hệ thống chế bản ghi phim, đội ngũ chế bản Nhà in Quân đội 2 đã có một thời gian dài sử dụng một số phần mềm bình trang điện tử (bình file PDF) để tách màu ra phim nguyên tờ in khổ lớn (đưa thẳng sang phơi bản, không phải bình phim thủ công). Khi chuyển sang công nghệ CTP, phần lớn nhân viên chế bản điện tử xuất phát từ thợ sắp chữ, tách màu ghi phim, chưa được trang bị kiến thức về bình trang và phơi bản. Các nhân viên bình phim và phơi bản lại không biết sử dụng máy tính và chế bản điện tử. Nhà máy in Quân đội 2 đã tổ chức lại sản xuất ở khâu trước in thành một khối thống nhất để các nhân viên tự bồi dưỡng, truyền đạt bổ sung cho nhau kiến thức và kinh nghiệm, phát huy được ưu thế của từng bộ phận riêng lẻ trước đây cho công việc chung đạt hiệu quả tốt hơn.

2.     Một vài kiến nghị về vấn đề hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà cung cấp

Trong lĩnh vực chế bản, các thiết bị công nghệ thuộc hàng cao cấp, công nghệ thay đổi liên tục. Việc làm chủ thiết bị trong quá trình vận hành, bảo trì, sửa chữa đối với các nhà in là rất khó khăn. Do vậy, vấn đề hỗ trợ kỹ thuật, bảo trì, bảo hành hệ thống từ phía nhà cung cấp là cực kỳ quan trọng. Việc hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực chế bản hiện nay của các nhà cung cấp cũng còn nhiều vấn đề cần được các nhà cung cấp quan tâm hơn nữa.
Thời gian huấn luyện, đào tạo như thỏa thuận trong các hợp đồng hiện nay là chưa đủ. Mặc dù vẫn ký biên bản xác nhận đã hoàn thành khóa học, nhưng thực tế nhân lực chế bản nhà in vẫn chưa làm chủ được những vấn đề cơ bản nhất trong vận hành. Nhà cung cấp cần có khảo sát, đánh giá lại công tác huấn luyện và có kế hoạch huấn luyện bổ sung.
Có những thiết bị hoặc tính năng kĩ thuật chọn thêm (option) của hệ thống trong thực tế không đưa vào sử dụng được có một phần từ việc huấn luyện đào tạo chưa kỹ.
Hiệu quả hỗ trợ kỹ thuật trong giai đoạn hậu mãi, nhất là khi xử lý các sự cố xảy ra đôi khi chưa đạt được như mong muốn. Có nhiều trường hợp lỗi từ phía người sử dụng, vận hành nhưng phần lớn các chuyên gia kĩ thuật trong lĩnh vực chế bản của nhà cung cấp cũng còn thiếu những kiến thức và kinh nghiệm thực tế, nhất là về khâu in, nên hiệu quả hỗ trợ kỹ thuật chắc chắn bị hạn chế. Nếu có sự hợp tác tốt giữa hai bên, đặc biệt là có được sự tư vấn, hướng dẫn kĩ càng, chu đáo từ phía các chuyên gia của nhà cung cấp thì sẽ cải thiện được hiệu quả cho công việc này. Các nhà cung cấp nên giúp khách hàng của mình chủ động xử lý được các sự cố kỹ thuật nhiều hơn.
Việc nâng cấp các phần mềm hệ thống để khắc phục các lỗi nội tại, nâng cao năng lực sản xuất trong điều kiện công nghệ thay đổi như hiện nay là rất quan trọng, vấn đề này các nhà in cũng cần có sự chủ động tư vấn, giúp đỡ kịp thời của nhà cung cấp.
TRẦN DUY HẢI
Nhà máy in Quân đội 2
 
 

Đăng nhập

Tỉ giá
Giá vàng
Ngày cập nhật 21-05-2012

Quảng cáo

Thống kê truy cập

mod_vvisit_counterKhách online59
mod_vvisit_counterTổng khách truy cập47874