Tiêu chuẩn hóa tram in offset

Tram in là thông số quan trọng hàng đầu trong chế bản. Để đảm bảo chất lượng in luôn ổn định & thỏa mãn tối ưu mọi yêu cầu đặt ra thì việc lựa chọn tram in phải được tiêu chuẩn hóa cho từng phương pháp in, công nghệ in và công nghệ chế bản, điều kiện in, vật liệu in, tính định kỳ của sản phẩm in (in 1 lần hay còn phải in lại định kỳ)...

Tiêu chuẩn hóa việc sử dụng tram in là lựa chọn loại tram in & các thông số của tram in theo một tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế được thừa nhận rộng rãi (vd ISO 12647) hoặc lựa chọn loại tram in và các thông số tram in phù hợp với đặc thù công nghệ và đặc thù sản phẩm in tại xí nghiệp. 

Phần 1: Tiêu chuẩn hóa tram in AM.

Hiện nay, trong lĩnh vực chế bản có 3 loại tram in kỹ thuật số : tram điều biên (AM), tram điều tần (FM) và tram lai AM & FM (Hybrid). Cùng một loại tram (AM, FM, Hybrid) lại có nhiều công nghệ tram hóa (screening technologies) khác nhau được áp dụng cho thiết bị tram hóa hình ảnh (RIP).

Các tram in FM, Hybrid với mục tiêu chính là xóa bỏ hiện tượng moiré và rossette, chỉ áp dụng thành công khi các nhà in có công nghệ CTP đồng thời đòi hỏi các điều kiện sản xuất rất khắt khe. Tram in AM truyền thống vẫn là lựa chọn chủ yếu và thông dụng cho cả chu trình chế bản ghi phim (CTF) và ghi bản tách màu (CTP) hiện nay.

Các thông số của tram AM cần phải tiêu chuẩn hóa gồm : hình dạng điểm tram (dot shape), góc tram các bản tách màu (screen angles), tần số quét tram hay số dòng quét tram (screen frequency/screen ruling), độ phân giải ghi hình ảnh (output resolution) .

Hình dạng điểm tram ảnh hưởng đến độ tương phản, sự gia tăng tầng thứ và độ trơn tru của tông chuyển hay độ mịn màng của hình ảnh. Tần số quét tram và góc tram các bản tách màu liên quan đến các hiệu ứng Rossette và Moiré của hình ảnh.

 Moiré do khác biệt tần số quét tram các bản tách màu (trái) và do sự xoay tram các bản tách màu (phải)
Hình dạng điểm tram (dot shape):
Trong in offset, điểm tram dạng Round-square/euclidean và Elliptical là những dạng tram được khuyên dùng. Dạng tram round-square không xác định được hướng tram chính (minh họa như hình 3a với dạng tram tròn), còn dạng tram Elliptical có hướng tram chính (hình 3b). Những dạng tram không xác định được hướng tram chính còn được gọi chung là dạng tram non-elliptical.

 

Hình 3: Xác định hướng tram

 
Dạng tram round-square: ở vùng sáng điểm tram có dạng tròn và chuyển dần sang dạng hình vuông ở vùng trung gian (tại điểm tram 50%, các hạt tram là hình vuông chạm đầu nhau) và ở vùng tối các phần tử không in (điểm trắng) có dạng tròn.
 

 
Hình 4: Minh họa dạng hạt tram round-square

 Hình 5: Dạng hạt tram round-square thực tế trên bản in

Dạng tram round-square thích hợp cho in báo nếu yêu cầu kiểm soát gia tăng tầng thứ ở vùng tối của hình ảnh được ưu tiên (nếu sử dụng dạng tram tròn thì vùng sáng hình ảnh sẽ mịn màng hơn tram vuông nhưng vùng tối dot gain cao hơn dạng tram vuông). Tram dạng vuông ở vùng sáng và vùng trung gian cho độ tương phản tốt nhưng chuyển tông ở vùng trung gian không trơn tru, có thể tạo nên hiệu ứng nhảy tông, gãy tông.
Dạng tram Elliptical: Ở vùng sáng các hạt tram (phần tử in) có dạng tròn sau đó chuyển dần sang dạng hình e-lip. Các hạt tram chạm đầu nhau lần 1 tại 40% ± 5% (thông thường là tại điểm tram 44%) và chạm đầu nhau lần hai tại 60% ± 5%  (thông thường tại điểm tram 61%) và trong khoảng tông này các hạt tram có dạng hình thoi (rhombic shape). Sau đó dạng tram lại chuyển thành e-lip và cuối cùng sang vùng tối các điểm trắng (phần tử không in) là hình tròn.
 

 
Hình 6: Minh họa dạng hạt tram Elliptical

 

Hình 7: Hình dạng hạt tram elliptical trên bản in

Ưu điểm lớn nhất của dạng tram in Elliptical là hình ảnh in ra mịn màng, giảm hiệu ứng nhảy tông, gãy tông nên tram chuyển trơn tru. Ở vùng sáng và vùng trung gian hình ảnh in mịn màng hơn dạng tram tròn, đồng thời ở vùng tối sự gia tăng tầng thứ đối với hạt tram dạng Elliptical cũng thấp hơn dạng tram tròn. Nhược điểm: nếu áp lực in quá lớn (dot gain cao) có thể tạo nên hiệu ứng thành các tram đường.
Dạng tram elliptical là lựa chọn lý tưởng cho in offset. Hầu hết các tiêu chuẩn kỹ thuật hay tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chế bản điện tử hiện nay đều coi là dạng tram Elliptical tiêu chuẩn cho in offset (ISO 12647, Heidelberg, Harlequin…).
Góc tram các bản tách màu:
Góc tram các bản tách màu không chỉ là thông số liên quan đến hiệu ứng moiré khi in chồng màu mà thông thường còn là cơ sở để nhận dạng các bản tách màu trong sản xuất. Trước khi lựa chọn góc tram cho các bản tách màu, có 2 vấn đề cần làm rõ khi xây dựng tiêu chuẩn. Thứ nhất là định vị góc tram. Thứ hai, xác định màu in chủ đạo.
Định vị góc tram:
Định vị góc tram là quy ước hướng góc 0° và chiều xoay góc.

 
Hình 8: Góc tram theo ISO 12647

Trong thực tế, có sự khác biệt về quy ước định vị góc tram giữa các tiêu chuẩn kỹ thuật và các nhà chế tạo thiết bị RIP
– Tiêu chuẩn kỹ thuật ISO 12647 quy định: góc 0 độ sẽ là hướng kim đồng hồ chỉ 3h00, chiều xoay góc tram là ngược chiều kim đồng hồ.
– Theo tiêu chuẩn kỹ thuật SWOP và Heidelberg, góc 0 độ sẽ là hướng kim đồng hồ chỉ 12h00, chiều xoay góc tram là thuận chiều kim đồng hồ.
– Với các thiết bị chế bản sử dụng RIP của Harlequin, góc 0 độ cũng là hướng kim đồng hồ chỉ 12h00 nhưng chiều xoay góc tram là ngược chiều kim đồng hồ.
 

 

 

Hình 9: Góc tram theo Heidelberg (tram IS Classic)                                      Hình 10: Góc tram theo Harlequin

Khi xây dựng tiêu chuẩn kĩ thuật nội bộ, ta cần phải có quy ước cụ thể trong việc định vị góc tram. Giả sử chọn cách đọc góc tram theo quy định của tiêu chuẩn ISO 12647 (cách đọc góc tram truyền thống) thì việc thiết lập góc tram các bản tách màu trên các hệ thống chế bản cũng phải tuân thủ theo quy định này, tức là phải hoán đổi góc tram các bản tách màu cho phù hợp. Ví dụ: màu Cyan theo hệ tọa độ Heidelberg có góc tram 15° thì trong hệ tọa độ ISO 12647 sẽ có góc tram 75°, để có góc tram màu Cyan là 15° theo yêu cầu tiêu chuẩn đã xây dựng thì khi ghi bản trên hệ thống chế bản Heidelberg ta phải gán góc tram cho màu Cyan là 75°.
Xác định màu chủ đạo:
Màu chủ đạo được định nghĩa là màu có trị số tông lớn nhất so với các màu khác để tạo nên màu tổng hợp của hình ảnh. Tùy thuộc phương thức tạo ra màu đen (Black) như thế nào khi tách màu hay khi chuyển đổi không gian màu sang CMYK để xác định màu chủ đạo.
Với phương thức tách màu cổ điển, màu đen chủ yếu có ở vùng tối của hình ảnh (bắt đầu tạo ra màu đen từ vùng tông trung gian và tăng từ từ lên ở vùng tối). Ngoài ra, trong thực tế chúng ta thường chú ý đến các hình ảnh chân dung và không muốn xảy ra moiré ở trên những hình ảnh này, đặc biệt là ở các vùng tông màu da người (skin tone), vì vậy màu đỏ Magenta là màu chủ đạo (Heidelberg cũng luôn coi màu đỏ Magenta là màu chủ đạo có lẽ dựa trên quan điểm này chăng).
Ngày nay, việc tạo ra thành phần màu đen thường sử dụng kỹ thuật GCR với các thông số thiết lập tiêu chuẩn (default) mà khi tách màu hay khi chuyển đổi không gian màu sang CMYK sẽ tạo ra màu đen có ở mọi vùng tông của hình ảnh và trị số tram màu đen ở vùng tối luôn cao nhất. Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi dùng Photoshop để chuyển đổi hình ảnh từ RGB sang CMYK (thiết lập chuyển đổi không gian màu sang CMYK trong phần mềm Photoshop hiện nay là GCR – Medium). Tương tự, GCR cũng là thiết lập chuẩn, quyết định chính trong việc tạo ra thành phần màu đen trong các ICC profile hiện nay. Chính vì vậy, phần lớn các tài liệu về tiêu chuẩn kĩ thuật in (ISO 12647, SWOP, PANPA…) hoặc tài liệu hướng dẫn chế bản hiện nay đều coi màu đen (Black) là màu chủ đạo.
Gán trị số góc tram cho các bản tách  màu:
Để hạn chế hiệu ứng moiré khi sử dụng kỹ thuật tram AM, tất cả các tiêu chuẩn, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật đều thống nhất về nguyên tắc như sau:
•    Với dạng tram không có hướng chính (hạt dạng tram round, square, round-square…), góc tram các bản tách màu C, M, K  phải lệch nhau tối thiểu 30°, góc tram của bản tách màu Y lệch so với màu khác 15°. Trị số góc tram màu chủ đạo là 45°.
•     Với dạng tram có hướng chính (hạt tram dạng elliptical), góc tram các bản tách màu C, M, K  phải lệch nhau tối thiểu 60 độ, góc tram của bản tách màu Y lệch so với màu khác 15 độ. Trị số góc tram màu chủ đạo là 45 độ hoặc 135 độ.
Ngoài ra, một số thiết bị RIP của các hãng như Heidelberg, Harlequin… còn đưa ra giải pháp đặc biệt: cho phép góc tram các bản tách màu xoay thêm 7,5° so với góc tiêu chuẩn thông thường (vd hệ thống tram IS CMYK + 7,5° và hệ thống tram Hybrid của Heidelberg). Đây là giải pháp rất có hiệu quả để hạn chế hiệu ứng moiré đã được kiểm chứng trong thực tế sản xuất.
Góc tram các màu thông thường được đề nghị chọn để tiêu chuẩn hóa như sau:
 
                                      
 

Hình 11: Góc tram Round Square (ISO 12647)    Hình 12: Góc tram Elliptical (ISO 12647)

 
                              
  Hình 13: Hệ thống tram AMIS classic của Heidelberg          Hình 14: Hệ thống tram AMIS CMYK + 7,5° của Heidelberg

 
Số dòng quét tram (lpi)
•    In trên máy in cuộn (web coldset): 40 ± 2 lines/cm (100 ± 0,8 lpi);
•    In trên máy in tờ rời: từ 45 – 80 lines/cm, tùy theo loại giấy in (giấy couché, couché-matt, giấy in báo…), tình trạng máy in, sản phẩm in là in lại định kỳ hay in 1 lần…
•    In trên giấy couché chọn tram xuất từ 60 – 70 lines/cm (150 lpi – 175 lpi).
•    In trên giấy couché-matt tram xuất là 52 lines/cm (133lpi).
•    In trên giấy báo tram xuất là 45 lines/cm (110 lpi – 120 lpi).
•    Sản phẩm chỉ in 1 lần yêu cầu chất lượng rất cao & điều kiện sản xuất đáp ứng có thể chọn tram xuất 80 lines/cm (200 lpi)…
Như đã nói ở phần đầu bài viết, sự khác biệt tần số quét tram cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng moiré của hình ảnh khi in chồng màu, đặc biệt đối với hình ảnh chân dung. Để giải quyết vấn đề này, khi tram hóa hình ảnh, số dòng quét tram của các bản tách màu C, M, Y thường có sai lệch 8 lpi hoặc 10 lpi.
Các giải pháp khác là tách màu Black hoặc Yellow với số dòng quét tram cao hơn so với các màu còn lại. Hệ thống tram IS Y fine  (tần số quét tram màu Y cao hơn các màu C, M, K khoảng 1,5 lần) và  tram RT Y45 K fine (tần số quét tram màu K cao hơn các màu C, M, Y khoảng 1,4 lần) là các giải pháp như vậy:
                           
Hình 15: IS Y Fine                                                                       Hình 16: RT Y45 K fine
Độ phân giải ghi hình ảnh:

Theo quan niệm truyền thống, độ phân giải ghi hình ảnh liên quan đến mức độ chuyển tầng thứ của hình ảnh. Số bước chuyển tầng thứ (gray levels) được xác định theo công thức sau:  # gray levels = (output resolution/screen frequency)2
Theo công thức này, để tạo ra 256 bước thang xám cho tram in 150 lpi thì độ phân giải ghi hình ảnh phải là 2400dpi (2540 dpi). Tuy nhiên, với các thiết bị RIP thế hệ mới tương thích PostScrip Level 3 (kỹ thuật tram hóa hình ảnh đã thay đổi), số bước chuyển tầng thứ tạo ra có thể đạt được là 4096 (PostScript Language Level 3 cho phép thông tin màu về hình ảnh nâng lên 12 bit /kênh màu). Điều này có nghĩa chúng ta không cần quan tâm đến độ phân giải ghi hình ảnh để tạo ra số bước thang xám nữa.
Vậy chúng ta có quan tâm đến độ phân giải ghi hình ảnh (RIP) nữa không. Câu trả lời là có. Chúng ta lựa chọn độ phân giải ghi hình ảnh theo độ phân giải của thiết bị ghi. Nếu độ phân giải ghi hình ảnh khác với độ phân giải thiết bị ghi sẽ làm kích thước ghi phim hay ghi bản tách màu bị sai lệch (có thể bị phóng to hay thu nhỏ so với kích thước hình ảnh trên file). Trong trường hợp thiết bị ghi hỗ trợ nhiều độ phân giải khác nhau và chúng ta quan tâm đến cả kích thước hạt tram nhỏ nhất có thể ghi & in được trên giấy, tốc độ ghi bản, có thể chọn như sau:
+ In offset tờ rời: chọn độ phân giải ghi hình ảnh là 2400 dpi hoặc 2540 dpi.
+ In offset cuộn: chọn độ phân giải ghi hình ảnh tối thiểu là 1200 dpi hoặc 1270 dpi.
Ví dụ tiêu chuẩn hóa tram AM trong lĩnh vực in offset:
Hệ thống chế bản: Thiết bị của Heidelberg
- RIP: Prinect Metadimension.
-Máy ghi bản CTP: Suprasetter H105
Lĩnh vực in:
- In tạp chí cao cấp sử dụng các loại giấy couché trên máy in offset tờ rời
- In báo trên máy in offset cuộn.
Loại tram: AM – IS CMYK + 7,5°.
+ Dạng tram (dot shape): Smooth Elliptical
- Hạt tram chạm đầu nhau lần 1: tại điểm tram có trị số 44%.
- Hạt tram chạm đầu nhau lần 2: tại điểm tram có trị số 61%
+ Góc tram (screen angles):
- Màu Cyan: 172,5°
-  Màu Magenta: 52,5°
- Màu Yellow: 7,5°
- Màu Black: 112,5°
(Góc 0° là vị trí kim đồng hồ chỉ 12h00, hướng đọc góc tram thuận chiều kim đồng hồ)
+ Tần số tram xuất (screen ruling/screen frequency):  
- In giấy couché trên máy in offset tờ rời: 175 lpi (70 lines/cm)
- In báo trên máy in offset cuộn: 100 lpi (40 lines/cm)
+ Độ phân giải ghi hình ảnh (output resolution/recorder resolution): 2540 dpi (1000 lines/cm)
 

Trần Duy Hải - Nhà máy in Quân Đội 2

Tiêu chuẩn hóa tram in offset (phần 2)

Rất nhiều nhà in tại Việt Nam đã đầu tư hệ thống chế bản CTP. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để có thể áp dụng kỹ thuật tram in FM hoặc XM vào sản xuất nhằm tạo ra một sự khác biệt để cạnh tranh trên thị trường in. Với tram in FM & XM chúng ta cần lựa chọn các thông số gì và yêu cầu kỹ thuật như thế nào để đáp ứng các yêu cầu chất lượng sản phẩm và phù hợp các điều kiện sản xuất trong thực tế.  
Phần 2: Tiêu chuẩn hóa tram in FM & XM   >> (xem Phần 1)
I. Tram in FM

 

 

Hình 1: Tram FM thông thường – ở mọi vùng tông , các hạt tram không thay đổi kích thước mà chỉ

thay đổi mật độ để đảm bảo diện tích phủ tram tương ứng giá trị % của tông màu.
 
Thông số quan trọng nhất cần xác định để tiêu chuẩn hóa tram in FM là kích thước hạt tram nhỏ nhất có thể in được đồng thời đảm bảo ổn định chất lượng in dễ dàng trong điều kiện sản xuất thực tế tại xí nghiệp. Kích thước hạt tram nhỏ nhất liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng in: khả năng tái tạo tầng thứ và phục chế không gian màu, mức độ dot gain, tình trạng bay bản, ổn định màu in… Kích thước hạt tram FM nhỏ nhất được chọn là bao nhiêu trước hết tùy thuộc tính năng và thông số kỹ thuật của thiết bị RIP. Các điểm khác cần lưu ý khi áp dụng hoặc đưa vào tiêu chuẩn hóa tram FM xin tham khảo các bài viết đã phổ biến trên www.inminhquan.com
Thông thường, đối với các sản phẩm là tạp chí cao cấp in giấy couché trên máy in tờ rời hay máy in cuộn sấy nhiệt (heat-set web offset), khi các điều kiện sản xuất được kiểm soát tốt, ta sẽ chọn kích thước hạt tram FM nhỏ nhất để ghi bản CTP là 20μm hay 21μm tương ứng với kích thước hạt tram AM tại điểm tram 2% được ghi bản với tần số tram 175lpi và độ phân giải ghi là 2540 dpi hay 2400 dpi. Còn đối với in báo trên máy in cuộn, kích thước hạt tram FM nhỏ nhất thông thường sẽ chọn để ghi bản CTP vào khoảng 30μm (ghi phim sẽ chọn 40μm – theo tiêu chuẩn ISO 12647-3).
Khi áp dụng tram FM, mức độ dot gain trên tờ in bao giờ cũng cao hơn so với khi in tram AM (theo tiêu chuẩn ISO 12647-3, mức độ dot gain cao nhất khi in tram FM là 40%, trong khi dot gain khi in tram AM cao nhất là 26% hoặc 30%). Do vậy, để đảm bảo khi in tram FM người thợ in vận hành & canh chỉnh máy như khi in tram AM, các nhà in nên thực hiện bù sự sai lệch này khi ghi bản. Giả sử khi in tram AM ta chỉ thực hiện ghi tram tuyến tính (linearization) thì khi ghi tram FM ta kích hoạt thêm chức năng process calibration trên RIP với lượng bù tương đương mức độ tăng tầng thứ in tram FM so với tram AM.
1. Tram FM của Heidelberg:
Cho đến nay, Heidelberg có 3 dòng tram FM:
- Diamond Screening
- Satin Screening
- Prinect Stochastic Screening
 
a) Diamond Screening:
Đây là dạng tram FM thế hệ đầu tiên của Heidelberg. Tất cả các bản tách màu tram Diamond đều hình thành từ 4 bản tách tram Diamond cơ sở với các hạt vi tram là điểm ghi laser nhỏ nhất có thể tạo được. Tùy thuộc độ phân giải ghi và kích thước hạt tram in nhỏ nhất thực tế được chọn, chúng ta sẽ có các bản in tách màu tram Diamond với kích thước hạt tram nhỏ nhất trên bản bằng kích thước hạt vi tram hoặc được nhân với một hệ số tương ứng.
Ví dụ, độ phân giải ghi là 2540 dpi, kích thước 1 hạt vi tram sẽ là 10μm (1 laser dot). Chúng ta có thể ghi tram Diamond cho bản in với các hạt tram nhỏ nhất có kích thước này, tuy nhiên các hạt tram có kích thước 10μm trong thực tế rất khó in được trên giấy. Chúng ta chỉ có thể in được trên giấy hạt tram có kích thước nhỏ nhất là 20μm. Với lựa chọn này, hệ thống tram Diamond sẽ sử dụng 4 laser dot (nhân đôi theo 2 chiều quét) để tạo nên hạt tram nhỏ nhất trên bản in cho các bản tách màu.

 

 

Hình 2: Tram Diamond (Heidelberg)

b) Satin Screening:
Tram in Satin là thế hệ tram FM thứ hai của Heidelberg với những cải tiến về khuôn mẫu (pattern) tạo tram, bao gồm cả số lượng và cách bố trí các laser dot, nhằm cải thiện và ổn định chất lượng hình ảnh in cũng như bảo đảm cho người thợ in vận hành và kiểm soát chất lượng sản phẩm dễ dàng hơn so với in tram Diamond.
Tram in Satin có 2 dạng: Satin Screening Fine & Satin Screening Medium.
 
Satin Screening Fine: Các hạt vi tram cơ sở gồm 4 laser dot (2×2 device pixels). Nếu chọn ghi tram Satin Screening Fine cho in báo với độ phân giải RIP là 2540 dpi và chọn kích thước hạt tram nhỏ nhất là 40μm, hạt tram nhỏ nhất trên bản sẽ hình thành bằng việc nhân đôi hạt vi tram ( 2 x 20μm).

 

 

Hình 3: Tram Satin Fine

Satin Screening Medium: Các hạt vi tram cơ sở gồm 9 laser dot (3×3 device pixels). Với độ phân giải ghi là 2540 dpi, kích thước hạt vi tram cơ sở là 30μm × 30μm. Trong trường hợp ghi CTP cho in báo cuộn, ta có thể trực tiếp chọn thông số ghi tram này.
c) Prinect Stochastic Screening
Tram in Prinect Stochastic được phát triển trên cơ sở tram Satin nhưng được thiết kế chuyên biệt và tối ưu cho một hoặc nhiều máy ghi. Có 2 dạng tram in Prinect Stochastic: Prinect Stochastic Screening Fine &  Prinect Stochastic Screening Medium.
 

 

 

Hình 4: Prinect Stochastic Screening Medium

Các thông số kỹ thuật của các hệ thống tram in áp dụng cho các thiết bị chế bản do Heidelberg cung cấp được mô tả đầy đủ và chi tiết trong các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật đi kèm.
2. Tram HDS (Harlequin Dispersed Screening) của Harlequin:

 
Hình 5: Dạng tram HDS fine

 

Hình 6: Dạng tram HDS super fine
 

  Hình 7: Dạng tram HDS Medium

 
Hình 8: Dạng tram HDS Coarse


Hình 9: Dạng tram HDS super coarse
 

   Hình 10: Kích thước hạt tram nhỏ nhất (μm) ứng với độ phân giải RIP và các cấp độ tram HDS.

Căn cứ vào tiêu chuẩn kích thước hạt tram nhỏ nhất (in trên loại giấy nào, in máy tờ rời hay máy cuộn…) và thông số độ phân giải của máy ghi bản, ta sẽ chọn loại tram và độ phân giải RIP tương ứng dựa vào bảng thông số trên.
Ví dụ:
- Nếu máy ghi bản chỉ có 1 độ phân giải 2400 dpi, để ghi tram HDS cho in báo với tiêu chuẩn kích thước hạt tram 40μm, ta cần chọn tram HDS Super Coarse và RIP với độ phân giải 2400 dpi (kích thước hạt tram nhỏ nhất tương ứng tạo ra là 42μm).
- Nếu máy ghi hỗ trợ độ phân giải 1200 dpi, ta sẽ  có nhiều lựa chọn hơn cho in báo với các tram HDS khác ở cả 2 độ phân giải 1200 dpi & 2400 dpi (kích thước hạt tram nhỏ nhất cho in báo ta trong thực tế có thể lựa chọn từ 28μm).
II. Tram lai AM-FM (XM, Hybrid)
1. Vài nét về các dạng tram lai ghép AM-FM:
Tram XM (Cross Modulated Screening) hay tram Hybrid, là các loại tram được tạo ra trên cơ sở lai ghép kỹ thuật tạo tram AM & FM với mục đích kết hợp những ưu điểm nổi trội của hai loại tram này và loại bỏ những nhược điểm biểu hiện rõ nhất của chúng. Hiện nay có một số giải pháp kỹ thuật tạo tram XM & Hybrid được áp dụng rộng rãi như sau:
Giải pháp thứ nhất:  Áp dụng kỹ thuật tram FM cho vùng sáng nhất (dưới 10%) và vùng tối nhất (trên 90%) để giữ được chi tiết ở những vùng này, vùng tông còn lại áp dụng kỹ thuật tram AM để không có hiện tượng nhiễu hạt như tram FM. Giải pháp này có một nhược điểm lớn nhất là có thể quan sát được sự chuyển đổi các vùng tông  AM  & FM, hình ảnh phục chế trở nên không tự nhiên (hình 11).

Hình 11: Tạo tram XM bằng cách chia hình ảnh thành các vùng tông và áp dụng

nguyên bản các kỹ thuật tram FM & AM (phương pháp tạo tram XM thế hệ thứ nhất & thứ hai)
Giải pháp thứ hai:  Vùng tông sáng nhất và tối nhất là tram FM; vùng tông còn lại áp dụng tram AM với tần số quét tram cao và kích thước hạt tram thay đổi nhưng hạt tram sắp xếp theo kiểu FM. Ví dụ tram Speckta của Dainippon Screen.

 

Hình 12: Tram Speckta 2 (Dainippon Screen)
 

 
Hình 13: Giải pháp công nghệ tram XM – các ô tram bên phải chỉ rút bớt hạt tram ngẫu nhiên từ ô tram ngoài cùng bên trái (tram AM) còn góc tram tram vẫn duy trì
Giải pháp thứ ba: Vùng tông trung gian áp dụng kỹ thuật tram AM thông thường với tần số quét tram cao, còn ở vùng sáng và vùng tối cũng áp dụng kỹ thuật tram FM để giữ được chi tiết tối ưu. Các bản tách màu vẫn duy trì góc tram AM cho cả vùng tông áp dụng kỹ thuật tram FM. Kỹ thuật tram FM chỉ áp dụng để điểu khiển việc tạo tram bằng cách hình thành hạt tram nhỏ nhất theo các pattern nào đó đồng thời thực hiện rút bớt các hạt tram một cách ngẫu nhiên sao cho vẫn đảm bảo diện tích phủ tram đáp ứng kích thước hạt tram nhỏ nhất đã xác lập. Rõ ràng với giải pháp này, quan sát vùng sáng và vùng tối của hình ảnh cho ta hiệu ứng như quan sát tram FM nhưng việc chuyển tông của hình ảnh mịn màng, tự nhiên hơn đồng thời vẫn loại trừ rossette, nhiễu hạt và đảm bảo năng suất ghi. Tram in XM của Agfa (Sublima) và tram in Prinect Hybrid của Heidelberg áp dụng giải pháp thứ ba.
Đối với tram in Prinect Hybrid của Heidelberg, phần tram AM là tram IS CMYK+7,5°. Các hạt tram nhỏ nhất được hình thành từ 4 laser dot (2×2 pixels) hoặc 9 laser dot (3×3 pixels) với các dạng như sau:

 

 

Hình 14: Prinect Hybrid pattern 2×2 (4 laser dots)
 

 

Hình 15: Prinect Hybrid pattern 3×3 (các pattern do 9 laser dots tạo nên)

2. Lựa chọn các thông số in tram XM:
Đối với tram XM, các thông số cần được tiêu chuẩn hóa và lựa chọn áp dụng sẽ bao gồm:
- kích thước hạt tram nhỏ nhất
- tần số quét tram
- độ phân giải ghi hình ảnh.
Ví dụ: Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng tram Prinect Hybrid của Heidelberg cho máy ghi Suprasetter:
* In tạp chí cao cấp sử dụng giấy couché trên máy in tờ rời:
  - Kích thước hạt tram nhỏ nhất: 20μm.
  - Tần số quét tram: 300lpi.
  - Độ phân giải RIP: 2540 dpi.
* In báo trên máy in cuộn:
  - Kích thước hạt tram nhỏ nhất: 28μm (hoặc 30μm)
  - Tần số quét tram: 200lpi.
  - Độ phân giải RIP: 2540 dpi.
Một số điểm cần lưu ý thêm khi áp dụng tram FM và tram lai AM-FM:
Ngoài những vấn đề đã cảnh báo khi áp dụng tram FM hay tram lai AM-FM, trong thực tế có một trở ngại rất lớn khi áp dụng các loại tram này. Đó là tình trạng bay bản. Với cùng điều kiện sản xuất, các bản in tách màu sử dụng tram FM hay Hybrid chỉ có số vòng máy chạy được (run length) bằng 50% – 70% so với khi sử dụng tram AM do tram in rất mỏng (tần số quét tram cao). Với điều kiện sản xuất thông thường ở Việt Nam, bản in CTP sử dụng tram AM có thể chạy 100.000 vòng máy thì khi sử dụng tram Hybrid theo các thông số đưa ra trên đây chỉ chạy được khoảng 70.000 vòng máy. Ngoài ra, do tình trạng máy in kém, áp lực in không đảm bảo (đặc biệt là chất lượng bản cao su và bọc lót chưa đúng), nếu in tram AM thì chất lượng vẫn chấp nhận được nhưng in tram Hybrid thì chất lượng lại rất tồi tệ, hạt tram không sắc nét và hình ảnh quan sát loang lổ. Nếu thiết bị RIP cho phép, ta nên lựa chọn kích thước hạt vi tram lớn hơn, giảm tần số quét; nếu không, tốt nhất là in tram AM. Như vậy, khi in tram FM hay Hybrid, liên hệ giữa người thợ in và người thợ chế bản phải rất chặt chẽ để có sự điều chỉnh thích hợp và kịp thời.
Vấn đề tiêu chuẩn hóa cũng không chỉ đơn thuần là vấn đề kỹ thuật mà mục đích cuối cùng, quan trọng nhất là hiệu quả kinh tế mang lại. Trong thực tế sản xuất, nếu điều kiện kỹ thuật thỏa mãn nhưng in tram FM hay in tram Hybrid không đem lại hiệu quả kinh tế so với in tram AM (ví dụ bản bay quá nhanh, chi phí thay bản cao su lớn v.v..), thì cũng không nên áp dụng.

(Tin sử dụng tài liệu từ Nhà in Quân đội 2)

 



 

 



 



 





  

 

Đăng nhập

Tỉ giá
Giá vàng
Ngày cập nhật 23-10-2014

Quảng cáo

Thống kê truy cập

mod_vvisit_counterKhách online9
mod_vvisit_counterTổng khách truy cập128391